Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Hàm lượng canxi cao làm tăng nguy cơ đau tim

Bệnh động mạch vành (CAD), thường gây ra các cơn đau tim, là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất trên toàn cầu. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC), mỗi năm ở Mỹ có khoảng 735.000 người bị đau tim.

Cho đến nay, các yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh tim được xác định bao gồm hút thuốc lá, hàm lượng cholesterol cao, tiểu đường và uống nhiều rượu.

Nghiên cứu mới của tiến sĩ Susanna C. Larsson, Viện Karolinska, Stockholm, Thụy Điển, đã chỉ ra một khuynh hướng di truyền liên quan đến hàm lượng canxi cao là một yếu tố có thể dẫn đến bệnh CAD và bệnh đau tim.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trong JAMA.

Trong báo cáo, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của canxi trong cơ thể, đề cập đến vai trò của canxi trong quá trình đông máu, điều chỉnh huyết áp và co cơ. Các nhà nghiên cứu cũng giải thích rằng nghiên cứu của họ đã được thúc đẩy bởi các nghiên cứu trước đây cho thấy có sự tương quan giữa hàm lượng canxi và CAD.

Hàm lượng canxi cao làm tăng nguy cơ đau tim

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tính chất quan sát của các nghiên cứu trước đây cho thấy kết quả của họ không thuyết phục, mối quan hệ nhân quả giữa hàm lượng canxi trong máu cao và CAD/bệnh đau tim chưa được chứng minh.

Tiến sĩ Larsson và các đồng nghiệp đã lựa chọn cách tiếp cận khác. Họ sử dụng một kỹ thuật được gọi là ngẫu hóa mendel, một phương pháp sử dụng các biến thể di truyền - nghĩa là sự khác biệt di truyền cho phép chúng ta cho biết mức độ nhạy cảm của chúng ta đối với các điều kiện và bệnh tật cụ thể - để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa hàm lượng canxi và CAD/ bệnh đau tim.

Nghiên cứu thực hiện trên dữ liệu được thu thập công khai từ 184,305 cá nhân. Trong đó, 60.801 người đã được chẩn đoán mắc CAD, 70% trong số họ từng bị đau tim và 124.504 người không bị bệnh tim.

Trong phân tích, các nhà nghiên cứu đã tính đến sáu biến thể di truyền liên quan đến hàm lượng canxi trong cơ thể.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy nguy cơ mắc CAD và bệnh đau tim cao liên quan đến khuynh hướng di truyền hàm lượng canxi trong máu cao.

Các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến hiệu quả của thuốc bổ sung canxi ở các cá nhân đã có hàm lượng canxi trong cơ thể cao.

Tuy nhiên, họ không thể xác nhận liệu uống các thuốc bổ sung canxi có thể ảnh hưởng đến nguy cơ mắc CAD/ bệnh đau tim trong những trường hợp này. Tiến sĩ Larsson và các đồng nghiệp nhấn mạnh cần tiếp tục điều tra về vấn đề này.

Tiến sĩ Larsson và các đồng nghiệp của bà cũng thừa nhận một số hạn chế trong nghiên cứu của họ khi phân tích các biến thể di truyền, trích dẫn sự nổi bật của biến thể di truyền đối với thụ thể nhạy cảm canxi, một protein liên quan đến việc duy trì mức độ canxi ổn định trong cơ thể.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đề cập đến thiếu sót thông tin về giới tính sinh học và tuổi của những người tham gia nghiên cứu. Cả hai đặc điểm này đều có khả năng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Tuy nhiên, nghiên cứu chú trọng việc củng cố những phát hiện của các nghiên cứu trước, bổ sung một yếu tố quan trọng vào danh sách các yếu tố nguy cơ dẫn đến đau tim và CAD.

BS. Tuyết Mai

(Theo medicalnewstoday)

Tiểu đường, cao huyết áp làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ

Bạn có thể nghe nói tiểu đường và tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bệnh tim hoặc suy thận, song một nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng những người bị tiểu đường và tăng huyết áp ở tuổi trung niên còn có nguy cơ cao bị sa sút trí tuệ sau này.

Tiểu đường, cao huyết áp làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ

Trong nghiên cứu này, các tác giả đã theo dõi khoảng 15.744 người tuổi từ 45-64. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình là 23 năm, 1.516 người có chẩn đoán sa sút trí tuệ. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền tăng huyết áp - tình trạng huyết áp cao hơn bình thường. Tiểu đường, tăng huyết áp và tiền tăng huyết áp làm tăng khả năng bị sa sút trí tuệ ở những người tham gia nghiên cứu. Ngoài ra, hút thuốc lá cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ sa sút tuệ ở người da trắng.

Bác sĩ Gottesman tác giả nghiên cứu nói: “Các kết quả của chúng tôi cung cấp bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa sức khỏe tim mạch ở tuổi trung niên và nguy cơ sa sút trí tuệ. Đây là những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được. Chúng tôi hy vọng, việc sớm chỉ ra những yếu tố nguy cơ này có thể giúp mọi người giảm khả năng bị sa sút trí tuệ sau này”.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí JAMA Neurology.

BS P.Liên

(theo Univadis/Boldsky)

Nền công nghiệp chăm sóc sức khỏe trên thế giới và ở Việt Nam

Bài 1: Những đặc điểm riêng của công nghiệp CSSK

Những năm sắp tới, trong xu thế của toàn cầu cũng như khu vực, công nghiệp chăm sóc sức khỏe (CSSK) của nước ta chắc chắn sẽ có những bước phát triển vượt bậc do già hóa dân số, sự tiến bộ vượt bậc của công nghiệp dược và thiết bị y tế… Tuy nhiên, nền công nghiệp CSSK cần được hiểu thế nào cho đúng, nó có đặc điểm gì và đã được thực hiện ở các nước phát triển ra sao, xu hướng ở nước ta như thế nào?...

Công nghiệp CSSK hay công nghiệp y tế là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất và phát triển nhanh nhất trên thế giới, chiếm đến trên 10% GDP của hầu hết các nước phát triển. Công nghiệp CSSK giữ một vai trò cực kỳ lớn của nền kinh tế các nước này và có những đặc điểm riêng biệt, rất khác so với các lĩnh vực khác.

Công nghiệp CSSK là gì?

Công nghiệp CSSK bao gồm những tổ chức cung cấp dịch vụ chẩn đoán, dự phòng, điều trị, các bệnh viện, các tổ chức y tế tư nhân, y tế công và tổ chức y tế tình nguyện. Công nghiệp CSSK còn bao gồm các nhà sản xuất - cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế. Một trong những lý do để khái niệm “công nghiệp CSSK” ra đời và ngày càng phổ biến trên thế giới là do sự phân biệt về khái niệm “sản xuất” và “dịch vụ” đã thay đổi. Mosby’s Medical Dictionary xuất bản năm 2009 định nghĩa: “Công nghiệp chăm sóc sức khỏe là toàn bộ các dịch vụ phòng bệnh, chữa bệnh và điều trị được cung cấp bởi các bệnh viện, các tổ chức, điều dưỡng, bác sĩ, nha sĩ, các nhà quản lý y tế, các tổ chức của Nhà nước, các đơn vị thể chế, các tổ chức tình nguyện, các cơ sở CSSK từ thiện, các nhà sản xuất trang thiết bị y tế, các nhà sản xuất dược phẩm và các tổ chức bảo hiểm y tế”.

Nền công nghiệp chăm sóc sức khỏe trên thế giới và ở Việt NamCông nghiệp CSSK là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất, phát triển nhanh nhất trên thế giới. Ảnh: st

Đặc điểm của thị trường công nghiệp CSSK

Đầu ra không được xác định rõ ràng bằng sản phẩm cụ thể: Dịch vụ CSSK có những đặc điểm khác với các dịch vụ và sản phẩm hàng hóa khác. Đầu ra của nhiều nền công nghiệp là những sản phẩm cụ thể nhưng đầu ra của dịch vụ CSSK không được xác định rõ ràng bằng các sản phẩm cụ thể. Đầu ra của dịch vụ CSSK không thể dự đoán và hiểu rõ bởi cả nhà cung cấp dịch vụ và cả người sử dụng hoặc thụ hưởng dịch vụ. Vì vậy, sự can thiệp của tổ chức thứ ba, tổ chức thanh toán chi phí (Cơ quan bảo hiểm y tế) và Chính phủ, cơ quan quản lý Nhà nước về CSSK là rất quan trọng và toàn diện. Mặc dù có sự khác biệt trên đây, thị trường chăm sóc sức khỏe vẫn phải tuân thủ các quy luật kinh tế cơ bản và việc phân tích kinh tế là rất quan trọng để xác định chính sách y tế công cộng.

Mất cân đối thông tin: Một đặc điểm của thị trường công nghiệp CSSK là sự mất cân đối thông tin. Người sử dụng dịch vụ và/hoặc sản phẩm (dược phẩm, trang thiết bị y tế, xét nghiệm…) hay nói cách khác người tiêu dùng của nền công nghiệp CSSK luôn luôn nhận được ít thông tin về nguy cơ và lợi ích của dịch vụ/sản phẩm hơn so với các nhà cung cấp dịch vụ y tế /thầy thuốc và nhà sản xuất, cung cấp sản phẩm thiết bị, dụng cụ y tế và dược phẩm. Vì vậy, các thầy thuốc và nhà sản xuất/cung cấp dịch vụ y tế đóng vai trò kép: Vừa là người tư vấn vừa là người cung cấp dịch vụ/sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Đối với việc khám chữa bệnh, hiện tượng này trở nên phức tạp hơn bởi vì thầy thuốc không chỉ thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh nói riêng hoặc CSSK nói chung cho bệnh nhân mà đồng thời lại phải chịu sự kiểm soát của bên thứ ba: người trả tiền (cơ quan cung cấp ngân sách nhà nước và/hoặc cơ quan bảo hiểm y tế) và nhà quản lý và hoạch định chính sách CSSK.

“Sự lạm tín”: Đây là khái niệm mà các nhà kinh tế dùng để mô tả tình huống mỗi cá nhân người bệnh đều có khuynh hướng mong muốn được hưởng thụ bất cứ dịch vụ/sản phẩm nào được kỳ vọng có lợi cho sức khỏe của họ nếu họ không phải trả tiền. Trên thực tế, có thể thấy rất nhiều dẫn chứng về “sự lạm tín” trong hệ thống khám chữa bệnh và CSSK như lạm dụng thuốc, lạm dụng kỹ thuật cao và các thiết bị đắt tiền (sophyscated medical equipment), lạm dụng xét nghiệm… hoặc người bệnh đòi hỏi được sử dụng các biệt dược gốc thay vì các thuốc generic có chất lượng và tác dụng tương đương với giá cả chấp nhận được… Các hành động này diễn ra trên quy mô lớn, phổ biến sẽ dẫn đến việc ngân sách y tế luôn luôn thiếu hụt không những chỉ vì thực trạng của nền kinh tế và nguồn lực tài chính quốc gia hạn hẹp mà còn vì không kiểm soát được lãng phí và bất hợp lý trong sử dụng ngân sách y tế và quỹ bảo hiểm y tế. Mặt khác, cơ quan bảo hiểm y tế với tư cách “bên thứ ba” chịu trách nhiệm thanh toán chi phí khám chữa bệnh và CSSK luôn luôn chịu áp lực cao về việc chi vượt thu, như người ta vẫn thường nói là nguy cơ “vỡ quỹ” bảo hiểm y tế.

Mục tiêu cuối cùng là hiệu quả đối với sức khỏe: Hiệu quả này chỉ có thể xác định là khả năng (xác xuất) trước khi cung cấp dịch vụ và cũng khó đo lường được ngay cả sau khi dịch vụ được thực hiện. Chăm sóc y tế không phải là yếu tố duy nhất quyết định cho sức khỏe mà các yếu tố khác như dinh dưỡng, luyện tập thể dục và lối sống có ý nghĩa quan trọng. Sự phân bổ có hiệu quả nguồn lực đầu tư vào khu vực y tế công hay y tế tư nhân đòi hỏi phải thận trọng đánh giá cân bằng chi phí và hiệu quả trên đầu ra của mỗi hệ thống.

Làm gì để có một nền công nghiệp CSSK lành mạnh?

Để một nền công nghiệp CSSK hoạt động lành mạnh, hợp lý và có hiệu quả, cơ quan quản lý y tế và các tổ chức bảo hiểm y tế cần phải có các biện pháp và sáng kiến nhằm kiểm soát và hạn chế hữu hiệu “sự lạm tín” cả ở phía bệnh nhân/người sử dụng dịch vụ/sản phẩm và cả những người/tổ chức cung cấp dịch vụ/sản phẩm CSSK. Những biện pháp/sáng kiến như vậy phải làm cho những nhà cung cấp dịch vụ/sản phẩm cân nhắc để cân bằng được giữa sự mong muốn trước mắt của bệnh nhân và lợi ích dài hạn của cơ quan bảo hiểm y tế và cơ quan quản lý ngân sách y tế trong một thị trường ngày càng phát triển của nền công nghiệp CSSK. Đây là điều mà người ta vẫn hay nói là chống “lạm dụng quỹ bảo hiểm y tế”.

Còn nữa

PGS.TS. Lê Văn Truyền

((Chuyên gia cao cấp dược học, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế))

Thuốc mới mang hi vọng đến cho bệnh nhân ung thư máu

thuốc mới điều trị bệnh ung thư máu

Kết quả này có thể giúp hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân bị dạng ung thư máu nguy hiểm nhất. Bạch cầu cấp dòng tủy (AML) là loại ung thư máu và tủy xương gây ra khoảng 265.000 ca bệnh mỗi năm trên thế giới. Loại thuốc mới được gọi là HXR hoạt động bằng cách ngăn ngừa các tế bào ung thư đi lệch khỏi quá trình tự nhiên khiến các tế bào bị tổn thương gây chết tế bào chương trình.

Theo Richard Morgan, GS tại ĐH Bradford, Anh, bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (AML) là căn bệnh khó chữa và không đáp ứng với nhiều phương pháp điều trị. Liệu pháp đích mới này cho thấy hiệu quả chưa từng có với dạng ung thư này. Thuốc nhằm vào họ gien đặc biệt được gọi là gien HOX giúp cung cấp cho các tế bào ung thư khả năng tăng trưởng và phân chia liên tục. HXR9 được tìm thấy trong chủng tế bào ung thư có khả năng đảo ngược gien HOX.

Trong nghiên cứu được công bố trên tờ Oncotarget, nhóm phân tích đã phân tích dữ liệu biểu hiện gien từ 269 bệnh nhân AML và tìm thấy mối liên quan giữa hoạt động của các nhóm gien HOX và tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân. Khi HXR9 được thử nghiệm trên các tế bào ung thư, chúng đã gây ra quá trình tiêu diệt tế bào. Tiêu diệt tế bào khiến các tế bào vỡ ra và đẩy các thành phần của chúng vào dòng máu thay vì vào hệ tiêu hóa như bình thường hay xảy ra trong quá trình gây chết tế bào. Điều này làm tăng khả năng có các phản ứng miễn dịch sau đó chống lại các tế bào ung thư. Ngoài ra, HXR9 có thể cũng được sử dụng kêt hợp với các phương pháp điều trị nhưng thử nghiệm ban đầu sẽ là một liệu pháp đơn”.

BS Thu Vân

(theo Univadis/THS)

Vì sao nghệ Micell ADIVA lại hiệu quả ngay sau khi sử dụng?

Chị Tr. cho biết thêm, chị ngạc nhiên, tại sao sản phẩm lại có tác dụng nhanh chóng như vậy, nó có tác dụng chỉ sau uống vài phút?

Có được điều này bởi Micell Adiva mang trong mình nhiều sự khác biệt.

Theo các chuyên gia y tế bởi vì Nghệ Micell ADIVA được xem là giải pháp chuyên biệt cho người đau dạ dày. Nghệ Micell ADIVA được xem là giải pháp đột phá hiệu quả trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh mạn tính: viêm loét dạ dày, hành tá tràng, viêm gan do bia rượu và phòng ngừa hình thành các tế bào ung thư cực kỳ hiệu quả.

Công nghệ Micelles là một công nghệ bào chế Curcumin (tinh chất từ Nghệ tươi) hiện đại bậc nhất hiện nay nhờ sự kết hợp 2 công nghệ: Công nghệ Nano làm cho các hạt curcumin đạt kích thước siêu nhỏ giúp phát huy hiệu quả tối ưu của tinh chất curcumin khi hấp thụ.

Công nghệ Micelles bao bọc các phân tử Nano curcumin kích thước đồng đều 30nm trong cấu trúc Micelles, không bị kết dính, không bị tác động bởi môi trường dịch vị axit dạ dày trong quá trình hấp thụ vào cơ thể.

Với sự kết hợp của 2 công nghệ này, Công nghệ Micelles cải thiện toàn diện các yếu tố khả năng hấp thụ, tăng sinh khả dụng gấp 185 lần tinh nghệ thông thường. Công nghệ Micelles cũng được xem là một xu hướng mới trong ngành thực phẩm chức năng sắp tới.

Đặc biệt, Nghệ Micell ADIVA sử dụng tấm “áo giáp” vỏ nang Gelatin 100% chiết xuất từ thực vật sau 7 phút giúp tinh chất nghệ dễ dàng hấp thụ nhanh chóng vào cơ thể. Tấm “áo giáp” này, hiện nay được xem là đầu tiên tại có mặt tại Việt Nam giúp Curcumin dễ dàng hấp thụ nhanh chóng vào cơ thể, tế bào niêm mạc chấm dứt nhanh chóng những cơn đau thắt dạ dày.

Chỉ cần bổ sung mỗi ngày 1 viên Nghệ Micell ADIVA được sản xuất và ứng dụng công nghệ Micelles từ Đức sẽ chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả, đồng thời giúp giảm tổn thương niêm mạc dạ dày.

Nghệ Micell ADIVA giúp người tiêu dùng có một giải pháp hiệu quả và tiện lợi hơn, cho người có nhu cầu muốn hỗ trợ điều trị bệnh đau dạ dàymà không thể dùng hàm lượng quá nhiều trong ngày.

“Với công nghệ Micelles hiện đại nhất này thì hạt nghệ chỉ có kích thước là 30nm thôi, nên tan trong nước tốt, giúp hấp thu nhanh hơn, chấm dứt cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả hơn hẳn đấy. Mình dùng rồi nên thấy rất rõ. Không những thế, nghệ Micell ADIVA còn có tác dụng hỗ trợ điều trị được nhiều bệnh khác như viêm gan do rượu bia, giảm mỡ máu, và ngừa ung thư nữa… Nhiều người khuyên dùng lắm”- một bạn khác chia sẻ.

Anh Hồng

Nghệ Micell ADIVA - Giải pháp chuyên biệt cho người đau dạ dày

Được sản xuất và ứng dụng công nghệ micelles 100% từ Đức, đột phát vỏ nang Gelatin chiết xuất từ thực vật, sinh khả dụng gấp 185 lần. Bổ sung mỗi ngày 1 viên Nghệ Micell ADIVA, giải pháp bảo vệ hiệu quả sức khỏe dạ dày, giúp giảm tổn thương niêm mạc dạ dày, chấm dứt những cơn đau dạ dày nhanh chóng và hiệu quả.

Truy cập website:ADIVA.COM.VN hoặc liên hệ: 1900 555 552

Sản phẩm có bán tại nhà thuốc, siêu thị trên toàn quốc.

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Sự thật về chứng đau lưng của Tổng thống Mỹ Kennedy

Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã công bố chi tiết về chứng đau lưng của John F. Kennedy, về các cuộc phẫu thuật cột sống, đánh giá y khoa và điều trị. Phân tích này giúp mang đến hiểu biết sâu sắc và đa chiều hơn về Tổng thống thứ 25 của Mỹ - người “hiếm có ngày nào mà ông ấy không phải vật lộn với bệnh tật”.

Tiến sĩ T. Glenn Pait, bác sĩ phẫu thuật thần kinh, Giám đốc Viện Nghiên cứu thần kinh cột sống Jackson T. Stevens cùng TS. Justin Dowdy, bác sĩ phẫu thuật thần kinh, đồng tác giả nghiên cứu đã phát biểu với Tạp chí Neurosurgery Spine ngày 11/7/2017: “John Kennedy có lẽ là một trong những vị tổng thống không khỏe nhất mà chúng ta từng có”.

Các nhà nghiên cứu cho biết, trái ngược với hình ảnh trẻ trung, tràn đầy năng lượng, John F. Kennedy trải qua thời thơ ấu ốm yếu với khớp lưng thấp không ổn định. Khi đến tuổi trưởng thành ông bị bệnh đường ruột cùng nhiễm khuẩn nặng. Kennedy còn bị viêm loét đại tràng, bệnh Addison và đau lưng dữ dội.Tổng thống Kennedy và phu nhân tươi cười với người dân đứng xung quanh đường chào đón họ ở Dallas, Texas ngày 22/11/1963. Chỉ sau đó vài phút, khi đoàn xe đi ngang qua Dealey Plaza, một tay súng đã ám sát Tổng thống Kennedy.

Tổng thống Kennedy và phu nhân tươi cười với người dân đứng xung quanh đường chào đón họ ở Dallas, Texas ngày 22/11/1963. Chỉ sau đó vài phút, khi đoàn xe đi ngang qua Dealey Plaza, một tay súng đã ám sát Tổng thống Kennedy.

Các vấn đề về lưng của Kennedy bắt đầu khi ông học tại Harvard, mặc dù chưa có tài liệu nào đề cập đến song có một sự đồng thuận rằng ông có thể đã bị tổn thương cột sống lưng vào năm 1937 khi chơi bóng đá. Năm 1940, ông xin gia nhập quân đội cũng như hải quân nhưng vì các vấn đề về lưng nên Kennedy đã thất bại trong việc kiểm tra sức khỏe. Điều này ảnh hưởng đến con đường chính trị của cha Kennedy, ông Joseph Kennedy, đại sứ Mỹ tại Anh vào thời điểm đó. Sau đó, vì một số lý do Kennedy đã được gia nhập hải quân nhưng cũng chính điều này khiến ông tăng khả năng bị thương ở lưng.

Khi đang phục vụ trong hải quân, ông chỉ huy chiếc tàu mang số hiệu PT-109, lúc đang thực hiện nhiện vụ, chiếc tàu bị một tàu khu trục của Nhật đánh chìm và sau đó, ông đã cứu mạng của một số thuyền viên. “Kennedy đã kéo một thuyền viên bị thương nặng bằng cách buộc dây quanh người của thuyền viên rồi ngậm chặt dây buộc để bơi trong 5 giờ đến một hòn đảo gần đó”. Chính điều này khiến Kennedy phải trải qua một thủ tục y tế gây tranh cãi dẫn đến việc phẫu thuật đầu tiên của ông, cuộc phẫu thuật dẫn đến nhiều vấn đề về sức khỏe sau này.

4 lần phẫu thuật

Cuộc phẫu thuật đầu tiên của Kennedy được thực hiện tại Mayo Clinic. Hình ảnh từ các phim chụp cho thấy một đĩa đệm đã bị thoát vị rõ ràng nhưng các bác sĩ ở Phòng khám Mayo khuyên Kennedy không nên phẫu thuật. Đến năm 1944, Kennedy đã được thực hiện phẫu thuật điểm L4 và L5 đốt sống lưng. Bảy năm sau, Kennedy kiên định với sự nghiệp chính trị của mình bất chấp những cơn đau dữ dội. Mỗi khi xuất hiện trước công chúng, ông luôn thể hiện mình là một người mạnh khỏe, tràn đầy năng lượng. Nhưng mỗi khi bước khỏi đám ông, ông phải sử dụng nạng, đeo nẹp lưng, trải qua liệu pháp vật lý hàng ngày và chịu đựng đau đớn.

Năm 1954, Kennedy đã trở thành một thượng nghị sĩ Mỹ, quyết định thực hiện phẫu thuật lần thứ hai để gắn một thanh kim loại vào cột sống của mình và giúp ổn định lưng. Mặc dù chụp Xquang sau phẫu thuật cho thấy đĩa L5 đã được nén lại, không thấy các vết nứt gãy xương. Tuy nhiên, thật không may cuộc phẫu thuật này không giúp giảm được nỗi đau của ông, thậm chí khiến ông trải qua các cơn đau đớn hơn.

Vết thương phẫu thuật phát triển một nhiễm khuẩn tụ cầu không lành, một năm sau đó, ông đã có cuộc phẫu thuật thứ ba để lấy thanh kim loại này ra.

Năm 1957, ông được chẩn đoán bị áp-xe trên xương sống đoạn thắt lưng của mình và phẫu thuật lần thứ tư và cũng là lần cuối cùng để điều trị.

Các phương pháp điều trị

Trong những năm này, Kennedy đã thử tất cả các loại thuốc điều trị bao gồm thuốc kháng sinh, giảm đau, ông đã sử dụng đến 12 loại thuốc. Tình trạng sức khỏe không ổn định khiến Kennedy luôn cần đến đội ngũ bác sĩ chăm sóc bao gồm bác sĩ dị ứng, nội tiết, dạ dày, tiết niệu cùng dược sĩ Janet Travell, Đô đốc George Burkley và Max Jacobson, một bác sĩ di cư từ Đức. Jacobson chuyên lấy amphetamines để trị trầm cảm, mệt mỏi.

Mãi đến năm 1961, khi bác sĩ chỉnh hình và BS. Hans Kraus được gọi đến Nhà Trắng để đánh giá tình trạng sức khỏe của Kennedy, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Tổng thống Kennedy đã bắt đầu tăng trọng lượng, bơi hàng ngày và nhận các liệu pháp mát xa. Các nhà nghiên cứu cho biết: “Trong vòng vài tháng, sức khỏe của Tổng thống Kennedy đã có sự cải thiện rất ấn tượng”. Tuy nhiên, Tổng thống Kennedy không từ bỏ thói quen mặc áo nẹp lưng. Trong nghiên cứu của mình, hai nhà khoa học Pait và Dowdy cho suy đoán chiếc áo nẹp đã giữ Tổng thống Kennedy ngồi thẳng lưng sau khi bị trúng phát đạn đầu tiên vào cổ. Nếu Tổng thống Kennedy không mặc chiếc áo này, ông đã có thể cúi đầu về phía trước và sẽ khó bị bắn trúng phát bắn thứ hai vào đầu hơn. Nhà nghiên cứu Pait nói: “Đau lưng đã khiến Kennedy đau đớn suốt cuộc đời và nó ảnh hưởng đến cả cái chết của ông”.

Minh Huệ

((Theo LS, 7/2017))

Lịch sử kỳ thú của 10 thực phẩm tăng cường tình ái

Nhưng có những giá trị lịch sử hay ho đứng đằng sau những loại thực phẩm này, và cả những lý do vì sao chúng lại là thức ăn gợi tình, kích thích ham muốn phòng the. Mời bạn cùng tham khảo.

Tỏi

Nói đến tỏi có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng nó chẳng ăn nhập gì với sự quyến rũ của tình yêu bởi cái mùi mạnh, hăng và đôi khi áp đảo những mùi hương nồng nàn khác trong Tự nhiên. Nhưng xuyên suốt chiều dài lịch sử, tỏi đã được xem là một loại thực phẩm có tính năng gợi dục. Những đoạn thơ trong Talmud đề cập rằng nên ăn tỏi vào ngày thứ Sáu hàng tuần, vì thứ Sáu là ngày mà theo truyền thống, các cặp vợ chồng phải làm tròn chức năng “giường chiếu”. Trong thành phần của tỏi có một số tính năng được cho là hiệu qảu với các mối quan hệ tình dục. Nó mang lại cảm giác ấm áp và thoải mái cho toàn cơ thể, chặn đứng cơn đói, tăng cường chất lượng tinh dịch, và tiêu diệt tất cả các ký sinh trùng trong cơ thể. Một số tác phẩm kinh điển còn nói rằng tỏi mang lại niềm hân hoan giúp cho hai người xích lại gần nhau hơn.

Tuy vậy, nhiều nền văn hóa khác như người Hy Lạp và La Mã cổ đại, lại tỏ ra ghét tỏi và mùi hăng của nó. Một truyền thuyết Hồi giáo nói rằng cây tỏi và hành đã mọc lên tại những nơi cuối cùng mà Qủy Sa-tăng đã bước qua khi hắn ra rời Vườn Địa Đàng. Ở Ấn Độ, tỏi nằm trong danh mục những loại thực phẩm không thích hợp với các tầng lớp quyền quý. Tỏi cũng là thứ mà Đức Quốc Xã nhận ra người Do Thái. Theo nền Đệ Tam Đức Quốc Xã, người Do Thái rất dễ bị nhận diện vì mùi tỏi phát ra từ cơ thể của họ, và mùi tỏi vô hình chung đã bị xem là mùi của sự gièm pha về chủng tộc. Vô hình chung, tỏi: biểu tượng trong sáng của tình yêu đã bị xuyên tạc thành mùi của sự xúc phạm.

Mật ong và rượu mật ong

Không nhiều loại thực phẩm có chứa các nhân tố gợi tình bằng mật ong. Sau tất cả, mật ong sẽ hình thành nên một khái niệm cao nhất của hôn nhân: honemoon (hay “Tuần trăng mật”). Chính xác hơn, Tuần trăng mật được lấy từ tên của “Mead” hay rượu mật ong, đây là một loại đồ uống có cồn có từ thời cổ đại, được làm từ mật ong và từ lâu được xem là thứ làm tăng ham muốn tình dục, đặc biệt với những ai vừa mới kết hôn xong. Tuần trăng mật đã có từ thời Ba Tư cổ đại, khi các đôi vợ chồng giành 30 ngày sau lễ cưới của họ để uống rượu mật ong vào mỗi tối, họ nói 30 ngày đó là tháng mật, mà người hiện đại chúng ta đã đổi thành “Tuần trăng mật”.

Ngoài tín hiệu hôn nhân màu mỡ, rượu mật ong cũng được cho là mang lại sự khôn ngoan và lòng can đảm cho người uống nó. Người Celt đã uống rượu mật ong từ khoảng năm 500 sau Công Nguyên, khi Thánh Brigitte hóa phép như sự nhiệm mầu của Chúa Ki-tô, bà đã biến nước thành rượu mật ong thay vì là rượu vang. Người A ztec và người Maya cổ đại cũng uống một loại rượu tương tự như rượu mật ong. Rượu mật ong đã làm từ hàng thế kỷ qua. Trong rượu mật ong có chứa một lượng lớn các loại vitamin B, chất đạm và ô-xít nitric làm tăng cường sức khỏe cho hệ sinh sản. Rượu mật ong cũng làm giảm cảm xúc ức chế và bồn chồn trong đêm tân hôn của các cặp vợ chồng trẻ.

Rau diếp

Ngoài một số loại thực phẩm có tác dụng làm nâng cao nhận thức tình dục, lại cũng có vài loại thực phẩm bị nguyền rủa vì đã làm hạ thấp tình ái. Rau diếp là một thánh vật của Nữ thần Aphrodite. Một trong số ít chuyện tình của nữ thần Aphrodite là Adonis, chuyện của họ là một cuộc tình bi thảm mà bạn có lẽ ít nghe nói đến trong thần thoại Hy Lạp. Erymanthos là con trai của thần Apollo đã nhìn thấy Adonis và Aphrodite có cử chỉ yêu nhau và Erymanthos đã biến mình thành lợn rừng để theo dõi họ. Erymanthos bắt quả tang và giết chết Adonis khi Adonis náu mình trong cánh đồng rau diếp. Sau khi Adonis chết, nữ thần Aphrodite đã đặt xác tình nhân trên một chiếc giường rau diếp và ai điếu cho tình nhân, sau đó rau diếp trở thành biểu tượng của cái chết và sự bất lực. Sự kết hợp của rau diếp và sự bất lực đã đến từ một tác phẩm khoa học giả tưởng của vị thầy thuốc cổ Hy Lạp tên là Nicander xứ Colophon.

Socola

Sô cô la là mặt hàng thống trị vào các ngày lễ Tình Nhân, nhưng khoa học đang canh cánh câu hỏi: chất kích thích tình ái thật sự có bao nhiêu phần trăm trong mỗi thanh sô cô la? Một số nghiên cứu cho thấy rằng sô cô la thực sự không tác động lên cái gì cả. Việc canh tác và sử dụng vỏ ca cao đã có từ năm 1.400 trước Công Nguyên, lâu hơn mọi suy luận trước đó. Đáng chú ý nhất là trong 2 nền văn minh Maya và Aztec đã sử dụng sô cô la dưới dạng đồ uống hơn là đồ ăn, ăn sô cô la là phát minh sau này. Sô cô la là một loại đồ uống trong nghi lễ của người Maya, nó là thức uống của các vị thần.

Xoay quanh các nghi lễ hứa hôn và cưới hỏi, các đôi vợ chồng thường uống sô cô la như là một phần trong các nghi thức bao quanh vị trí của họ trong xã hội. Nó cũng là thứ vô giá trị với người Aztec. Với người Aztec, sô sô la cũng là thức ăn cho các vị thần, nó được cho là món quà ban tặng cho thế giới loài người từ Quetzalcoatl. Hạt ca cao từng được sử dụng như một loại tiền tệ. Ngoài việc, dùng đồ uống sô cô la trong các nghi lễ sinh con và cưới xin của người Aztec, nó cũng là một phần quan trọng trong các nghi lễ hiến tế. Người trở thành đồ hiến tế cho các vị thần sẽ được cho uống sô cô la như một thông điệp chúc may mắn khi sang thế giới bên kia.

Sừng tê

Vào đầu thế kỷ 20, đâu đó trên khắp thế giới, dân số của loài tê giác còn khoảng nửa triệu con. Vào đầu thế kỷ 21, số lượng tê giác giảm xuống còn vài ngàn con, và nạn săn bắn trộm đang đẩy dân số loài động vật này mấp mé bên bờ vực tuyệt chủng. Những kẻ săn trộm bị thôi thúc bởi nhu cầu tiêu thụ sừng tê không ngừng gia tăng, chúng được cho là có tính năng gợi tình mạnh mẽ, vì sừng tê đã được sử dụng trong nền y học cổ truyền Trung Quốc trong suốt hàng ngàn năm qua. Thực vậy, nó được đánh giá cao trong y học cổ truyền Trung Quốc với nhiều công dụng khác nhau – ngăn chặn ác mộng, ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm, giảm viêm sưng, chữa ho và sốt rét, thậm chí nó còn giải độc do rắn cắn. Nhưng chả có gì liên quan đến việc tăng cường ham muốn tình ái. Vào thập niên 1960, nhà Tình dục học Louis Leakey tỏ ra quan tâm tới sừng tê, nhưng tính năng gợi tình của nó chẳng qua đã được thổi phồng.

Cóc

Những chất ảo giác được lấy từ con cóc đã được dùng để tạo ra các chất hóa học có tính năng gợi tình. Gần đây nhất là vào thập niên 1990, một loại thuốc làm từ các chất từ cóc đã tạo ra một chuỗi các ca tử vong. Loại thuốc đó từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc, người uống thuốc đầu tiên sẽ có cảm giác nôn mửa, tiếp đó tim sẽ ngừng đập hoặc suy hô hấp. Chan su, chất được triết xuất từ chất độc của cóc, có tác dụng làm giảm sưng nhưng lại kích thích cơ thể, nó cũng tạo nên cảm giác tê. Khi Chan su được thoa lên một số vùng cơ thể nhất định, nó được cho là làm tăng thời gian quan hệ tình dục. Tuy nhiên, nếu lỡ ăn phải chất này thì có thể gây ra tử vong.

Quả lựu

Quả lựu đã dùng làm thức ăn của nữ thần Aphrodite, nữ thần đã gọi nó là “trái gợi tình”. Theo truyền thuyết Hy Lạp, cây lựu đầu tiên đã được thần Aphrodite trồng trên đảo Kypros. Lựu cũng là trái thiêng đối với nữ thần Hera, sự kết hợp giữa hai nữa thần Aphrodite và Hera khiến cho lựu mang hình tượng của hôn nhân và sinh sản. Màu đỏ của hạt lựu còn là biểu tượng của huyết trinh nữ, việc ăn lựu còn liên quan đến việc tiếp nhận đời sống hôn nhân. Quả lựu cũng xuất hiện trong thần thoại của Persephone. Bị bắt cóc bởi Hades, Persephone đã có cơ hội trở lại trần gian sau khi ăn trái lựu – trái của âm phủ.

Hạnh nhân

Hương vị phổ biến trong các đám cưới thường là những thanh kẹo phủ hạnh nhân. Từ xa xưa, loại hạt này đã trở thành thức ăn có tính năng kích thích tình dục, người ta tin rằng nó đã được dùng từ thời Hy Lạp cổ đại. Các đôi vợ chồng Hy Lạp thường ăn hạnh nhân nhằm đảm bảo sinh nhiều con cái, còn có niềm tin mê tín cho rằng các cô gái còn trinh đã đặt hạt hạnh nhân dưới gối nhằm khiến cho cô ngủ có thể mơ về vị hôn phu tương lai. Ở Ma Rốc, sau đêm tân hôn, các cặp vợ chồng thường phân phát hạnh nhân cho trẻ em nhằm ngụ ý đảm bảo nòi giống cho thế hệ tương lai. Sự giao kết giữa hạt hạnh nhân và sinh sản đã được viết trong kinh Thánh và cả kinh Cựu ước.

Quả bơ

Quả bơ là trái cây yêu thích của vua Louis XIV, ngài tin rằng loại trái cây này có khả năng kích thích tình ái. Thịt quả có vị bùi, béo, rất ngon miệng. Một cặp trái bơ treo trên cành cây trông hao hao giống như tinh hoàn của đàn ông – theo quan niệm của người cổ đại Aztec. Khi người Tây Ban Nha xâm lược vùng đất của người Aztec, bơ là một trong những loại bỏ yêu thích của người mới. Cây bơ di cư về phương Bắc và ngay cả dân Mỹ cũng mê nó.

Hàu

Tay playboy Casanova nổi tiếng bởi việc tiêu thụ 50 con hàu mỗi ngày nhằm chuẩn bị cho việc “lâm trận” vào buổi chiều. Hàu cũng là thức ăn hiện diện tại các bữa tiệc xa hoa của người La Mã, còn các bác sĩ La Mã đã mô tả hàu là một loại thuốc trị bệnh bất lực. Giải thích lý do vì sao nói hàu có khả năng kích thích tình ái phải kể đến chu kỳ sinh sản của chúng. Các con hàu giải phóng vào nước những loại vật liệu sinh sản. Điều này cho phép các con hàu có thể thụ tinh bên ngoài, và chắc hẳn quy trình giao hoan diễn ra mãnh liệt biết chừng nào. Thịt hàu còn là thức ăn của nữ thần Aphrodite, đó là tình yêu và niềm đam mê của nữ thần. Truyền thuyết kể rằng nữ thần Aphrodite sinh ra trong vỏ sò, và ngọc trai là đá thiêng của nàng.

NGUYỄN THANH HẢI

(Theo LIST )